Blogger news

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

bệnh lé mắt


 Lé mắt là gì?

Lé mắt là khi ta nhìn một vật nào đó, hai mắt  không thẳng hàng mà có một mắt lệch đi so với mắt còn lại. Có thể lệch vào trong gọi là lé trong, lệch ra ngoài gọi là lé ngoài, hoặc lệch lên trên gọi là lé đứng trên, hay lệch xuống dưới gọi là lé đứng dưới. Lé xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa các cơ ngoại nhãn của mắt, làm cản trở sự phát triển thị giác hai mắt và có thể ảnh hưởng đến thị lực, đồng thời cảm nhận chiều sâu - khả năng định vị một vật nào đó trong không gian 3 chiều -có thể mất.


Lé ngoài

Lé trong

 Ai có thể bị lé?

Lé mắt có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, bẩm sinh hoặc mắc phải, cũng có thể yếu tố di truyền. Người lớn thường lé thứ phát sau một chấn thương mắt, tật khúc xạ ( cận thị, viễn thị, loạn thị) không được điều trị hoặc một bệnh lý nào đó, có thể là tổn thương ở thần kinh hoặc tại cơ vận nhãn. Trẻ bị lé bẩm sinh thì chưa rõ nguyên nhân, có lẽ do di truyền. Nghiên cứu cho thấy hơn phân nửa trẻ em bị lé gặp ở lứa tuổi nhũ nhi, ngay sau sanh hoặc một thời gian ngắn sau sanh.

 Nguyên nhân bị lé?

Có 6 cơ vận nhãn bám xung quanh mắt để giúp mắt liếc các hướng. Một cơ có vai trò liếc mắt sang phải, một cơ liếc mắt sang trái và 4 cơ còn lại làm cho mắt liếc lên trên và sang 4 góc. Khi thị giác hai mắt phát triển tốt thì hai mắt sẽ luôn làm việc cùng nhau để nhìn về 1 vật, não sẽ buộc cho các cơ ở một mắt hoạt động cân bằng nhau và hai mắt phối hợp hài hòa nhau. Lé mắt xảy ra là do sự mất cân bằng hài hòa này. Lé có thể do một rối loạn nào đó ở não hoặc tại cơ làm sự điều phối trên bị rối loạn.
Có thể một tổn thương nào như khối u, xuất huyết… làm liệt thần kinh vận động cho cơ nên mắt bị lé.
Lé có tính gia đình. Những tổn thương tuần hoàn trong bệnh tiểu đường, đục thủy tinh thể , viễn thị, khối u mắt hoặc bệnh lý khác làm cho mắt mờ có thể dẫn đến lé.

 Triệu chứng của lé?

Biểu hiện của lé đơn giản nhất là được thấy hai mắt lệch nhau do người xung quanh phát hiện hoặc khi soi gương. Tuy nhiên, có những trường hợp lé độ nhỏ hoặc lé ẩn thì khó phát hiện hơn.
Triệu chứng có thể là mỏi mắt thường xuyên hoặc khả năng tập trung kém, nhìn mờ do tật khúc xạ kèm theo hoặc do nhược thị.
Nếu lé xảy ra đột ngột, bệnh nhân có thể nhìn đôi do hai mắt nhìn về hai vật đồng thời. Để giảm khó chịu thì bệnh nhân sẽ nghiêng đầu để nhìn, và dần dần não sẽ tự ức chế ảnh ở một mắt để xóa song thị. Hậu quả là gây ra nhược thị một mắt.

 Lé mắt gây tác hại gì?

Tác hại cực kỳ quan trọng nếu lé xảy ra ở trẻ em đang trong giai đọan phát triển thị giác là làm cho thị giác kém phát triển, có thể gây nhược thị, mất khả năng nhìn bằng hai mắt, do đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như không thể làm một số nghề nghiệp đòi hỏi thị giác hai mắt tốt. Ngoài ra với người lớn, lé mắt làm mất vẻ thẩm mỹ và là trở ngại rất lớn cho việc giao tiếp trong cuộc sống.
Ở người lớn tuổi, lé mắt đột ngột có thể là báo hiệu một bệnh lý cấp tính ở hệ thần kinh vận động, do đó cần phải khám và tìm nguyên nhân để điều trị.
Bác Sĩ Lê Nguyễn Huy Cường
(BV Mắt Việt Hàn)   

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

Điều trị bệnh võng mạc mắt

LASER có những ưu điểm rất lớn đối với các bệnh lý bán phần sau, đặc biệt là các bệnh có liên quan đến mạch máu, hắc mạc… LASER quang đông có nhiều ứng dụng rất rộng rãi và quan trọng trong việc điều trị các bệnh lý của võng mạc

LịCH SỬ CỦA LASER VÀ LỊCH SỬ ỨNG DỤNG LASER TRONG NHÃN KHOA

Theophilus Bonetus (1620-1689) lần đầu tiên mô tả ám điểm trung tâm sau khi võng mạc bị bỏng do ánh sáng mặt trời.
Năm 1956, đèn cao áp xenon được sử dụng làm nguồn tia quang đông. Sau đó, Meyer-Schwickerath, Zeiss đã hoàn thiện thành máy phát tia và đưa ra bán trên thị trường.
Maiman (1960) đã sử dung tinh thể ruby để phát ra tia LASER. Zweng, Zaret và nhiều tác giả khác đã sử dụng loại LASER này để điều trị các bệnh mắt.
LASER argon được đưa vào thực nghiệm từ năm 1965. năm 1969, Little và nhiều người khác đã thử nghiệm lâm sàng thành công với LASER argon. Hiện nay,LASER argon là loại LASER được phổ cập nhất trên toàn thế giới.
Năm 1980, Fankhauser và nhiều ngườikhác đã ứng dụng thành công loại LASER Nd - YAG phát xung, để làm rách cấu trúc màng trong mắt (rạch bao sau thể thủy tinh, cắt mống mắt chu biên … ).
Ở Việt Nam chúng ta, LASER heli - neon đã được dùng để điều trị hỗ trợ các trường hợp viêm loét giác mạc do nhiễm trùng. Mới đây, các loại LASER argon, diode, krypton, Nd - YAG, … đã được sử dụng phổ biến tại các trung tâm nhãn khoa lớn.

            
MỘT SỐ LOẠI BỆNH VÕNG MẠC THƯỜNG GẶP VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU TRỊ BẰNG LASER QUANG ĐÔNG
1. Phù hoàng điểm
  • Quang đông có tác dụng hàn những điểm rò rĩ mạch máu, như các vi phình mạch.
  • Quang đông lưới điều trị phù hoàng điểm
2. Quang đông rải rác điều trị tân mạch
  • Quang đông trực tiếp phá hủy vùng võng mạc thiếu máu là nơi sản sinh ra yếu tố tăng sinh mạch máu.
  • Quang đông gây phá hủy các tế bào cảm quang và biểu mô sắc tố võng mạc tiêu thụ oxy có thể gây cải thiện quá trình oxy hoá của lớp võng mạc phía trong, làm giảm bớt kích thích sản sinh các yếu tố tăng sinh tân mạch.
  • Quang đông, có thể giải phóng ra yếu tố ức chế tạo tân mạch bình thường vẫn nằm trong biểu mô sắc tố.
3. Màng tân mạch hắc mạc
  • Phá hủy trực tiếp màng tân mạch hắc mạc.
  • Quang đông còn gián tiếp làm tắc các mạch nuôi gây ức chế, hoặc làm nghẽn tắc toàn bộ màng tân mạch hắc mạc.
4. Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch
  • Quang đông trực tiếp vào điểm rò huỳnh quang, có tác dụng tiêu diệt các tế bào biểu mô sắc tố hoạt động không tốt, làm tăng sinh các tế bào biểu mô sắc tố lân cận, và các tế bào này sẽ được phủ lại vùng tổn hại.
  • Quang đông gián tiếp ở một vị trí ở dưới vùng bong thanh dịch, nhưng cách xa điểm vàng, cách xa bó gai hoàng điểm và xa vị trí có chỗ rò. Người ta cho rằng quang đông làm bong võng mạc rút đi có lẽ là vì quang đông đã tạo điều kiện cho chất dịch ở khoang dưới võng mạc thấm vào lớp mao mạch hắc mạc được dễ dàng hơn.
5. Các dị dạng mạch máu võng mạc
  • Hấp thu năng lượng LASER làm vùng dị dạng mạch nóng lên. Kết quả là tổ chức mạch máu đông đặc, tắc nghẽn, hoại tử và thành sẹo.
6. Các khối u nội nhãn không phải u mạch máu
  • Hấp thu năng lượng LASER làm cho tổ chức khối u bị hoại tử (u sắc tố ác tính).
  • Các mạch máu nuôi dưỡng khối u bị tắc gây hoại tử khối u (retinoblastom và u sắc tố ác tính).
7. Các vết rách võng mạc
  • Quang đông hay lạnh đông, gây sẹo hắc-võng mạc xung quanh vết rách, do vậy làm mất thông thương giữa khoang dưới võng mạc và khoang dịch kính. Trên lâm sàng, khi ta tạo các vết đốt võng mạc trắng ở vùng võng mạc bong quanh vết rách, tức là đã làm cho võng mạc xẹp trở lại.
  • Mặc dù LASER làm tăng lực kết dính giữa võng mạc thần kinh cảm thụ và biểu mô sắc tố trong vòng 24 giờ, nhưng phải đến nhiều tuần lễ sau sẹoLASER mới hoàn toàn lành.

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

Điều trị tật khúc xạ

Tật khúc xạ, trong đó chủ yếu là cận thị chiếm tỷ lệ không nhỏ trong cộng đồng dân cư. Theo các điều tra taị một số trường học ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Mình, tỷ lệ cận thị là 23-28%.

1- Mắt bình thường:

Mắt bình thường (còn gọi là chính thị) là mắt có chiều dài trục nhãn cầu khoảng 22,5-23 mm, tương ứng với độ hội tụ của mắt khoảng 62 D. Lúc đó hình ảnh của vật ở vô cực sẽ hội tụ trên võng mạc, giúp nhìn thấy rõ.

Ảnh của vật ở vô cực hội tụ trên võng mạc.

2- Mắt cận thị

Mắt cận thị là mắt có trục nhãn cầu dài hơn bình thường hoặc công suất hội tụ của giác mạc – thể thủy tinh quá lớn làm cho ảnh của một vật ở vô cực hội tụ trước võng mạc. Mắt chỉ nhìn gần rõ, nhìn xa bị mờ, phải mang kính cận (thấu kính phân kỳ) để đưa ảnh lui đúng trên võng mạc.
Mắt cận thị có ảnh hội tụ trước võng mạc

3- Viễn thị:

Mắt viễn thị là mắt có trục nhãn cầu ngắn hơn bình thường hoặc công suất hội tụ của giác mạc – thể thủy tinh thấp làm mà ảnh của một vật ở vô cực hội tụ sau võng mạc. Nếu viễn thị nhẹ thì mắt có thể điều tiết để nhìn xa rõ, nhưng mau mỏi mắt. Điều chỉnh bằng cách mang kính viễn thị (thấu kính hội tụ) để đưa ảnh trở về đúng trên võng mạc.

Mắt viễn thị có ảnh hội tụ sau võng mạc

4- Lão thị:

Càng nhiều tuổi thì tính chất đàn hồi của thủy tinh thể giảm dần, vì vậy những người từ 40 tuổi trở lên khi nhìn gần hoặc đọc sách thấy mờ, muốn nhìn rõ phải để xa mắt, đọc sách lâu thường chóng mỏi mắt.
Nhìn xa không thay đổi, nhưng muốn nhìn gần tốt cần phải mang kính lão thị (thấu kính hội tụ, tương tự như kính viễn thị, nhưng chỉ dùng để nhìn gần mà thôi).

Sự điều tiết khi nhìn gần của mắt

Tất cả các bất thường về khúc xạ nói trên ngày nay có thể sử dụng Laser Excimer điều chỉnh công suất giác mạc để không cần phải mang kính nữa.

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Bệnh cườm nước


CƯỜM NƯỚC (GLAUCOMA) 


Cườm nước là bệnh khá phổ biến ở người lớn tuổi và chiếm tỉ lệ 20% nguyên nhân gây mù ở Việt Nam. Cườm nước xảy ra do sự tăng áp lực dịch trong mắt (nhãn áp), gây tổn thương thần kinh thị giác dẫn đến nhìn mờ, thu hẹp thị trường và cuối cùng là mù lòa không hồi phục. Phần lớn các trường hợp xảy ra từ từ nên bệnh nhân không hay biết, đến khi phát hiện thì đã muộn.


Nguyên nhân tăng nhãn áp :

Mắt liên tục sản xuất thuỷ dịch, là dịch trong suốt chứa đầy ở tiền phòng (khoảng giữa giác mạc và mống mắt). Thuỷ dịch được thoát khỏi tiền phòng thông qua một hệ thống ống phức tạp. Cân bằng giữa sản xuất và thoát lưu thuỷ dịch quyết định sự ổn định của nhãn áp. Nếu có sự mất cân bằng giữa 2 yếu tồ trên xảy ra sẽ gây tăng nhãn áp, dẫn đến bệnh cườm nước.

Các loại Glaucoma :

1/ Glaucoma Góc Mở Nguyên Phát: chiếm đa số, xảy ra ở người trung niên trở lên và có tính di truyền. Thường chỉ có triệu chứng nhìn mờ từ từ, không đau nhức hay đỏ mắt gì nên bệnh nhân không chú ý, đến khi phát hiện thì đã muộn.
2/ Glaucoma Góc Đóng Cấp Tính: thường xảy ra ở người trung niên trở lên, do tắt hệ thống thoát lưu thủy dịch làm áp lực trong mắt tăng đột ngột. Bệnh nhân sẽ nhức mắt, nhức đầu dữ dội, đỏ mắt, buồn nôn và nôn, nhìn mờ và thấy các quầng xanh đỏ quanh nguồn sáng.
3/ Glaucoma Góc Đóng Mạn Tính: Tình trạng này biểu hiện cũng giống nhưGlaucoma góc mở nguyên phát, diễn ra từ từ do tắc dần đường thoát lưu thuỷ dịch trong mắt, gây tăng nhãn áp.
4/ Glaucoma Thứ Phát: xảy ra do viêm bên trong mắt hay do đục thuỷ tinh thể giai đoạn muộn. Các nguyên khác ít gặp như do u, chấn thương …
5/ Glaucoma bẩm sinh: Dạng này ít gặp, xảy ra ngay lúc sinh. Nếu có các triệu chứng nghi ngờ nhu trẻ sợ ánh sáng, chảy nước mắt hoặc mắt to bất thường cần đưa đi khám Bác sĩ.

Điều trị Glaucoma :

Glaucoma được phát hiện càng sớm thì kết quả giữ được thị lực càng cao.
Tuỳ vào loại Glaucoma mà có các phương pháp điều trị khác nhau. Có thể dùng thuốc, Laser hay phẫu thuật.
Điều quan trọng cần nhớ rằng Glaucoma là bệnh lý gây mù không thể hồi phục được và sự ổn định, hiệu quả điều trị chỉ có thể xác định bởi Bác sĩ chuyên khoa mắt. Cảm giác nhìn tốt hay xấu chưa đánh giá được tình trạng diễn tiến của bệnh. Do đó, bệnh nhân cần được theo dõi định kỳ.

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Cườm khô - bệnh viện Mắt Sài Gòn

CƯỜM KHÔ (ĐỤC THUỶ TINH THỂ)

Thủy tinh thể là chiếc đĩa trong suốt nằm ở phía bên trong mắt, nó tập trung các tia sáng đi vào võng mạc để tạo thành hình ảnh sắc nét rõ ràng, như thấu kính của máy ảnh tập trung hình ảnh vào phim. Thủy tinh thể có chức năng như một thấu kính hội tụ công suất 20D nằm sau mống mắt và tham gia vào quá trình điều tiết của đôi mắt.

1. Bệnh đục thủy tinh thể (cườm khô) là gì?

Là hiện tượng đục mờ thủy tinh thể. Sự đục mờ này ngăn không cho tia sáng lọt qua, kết quả là võng mạc không thu được hình ảnh và thị lực bệnh nhân suy giảm dẫn đến mù lòa.
Bệnh đục thủy tinh thể không phải là ung thư hoặc khối u bất thường trong mắt.
Bệnh này là do những thay đổi vật lý trong các thành phần của thủy tinh thể gây đục. Chứng bệnh này có thể được Bác sỹ Mắt phát hiện một cách dễ dàng bằng các dụng cụ chuyên khoa mắt.

2.Các triệu chứng của bệnh đục thủy tinh thể là gì?

Mắt nhìn thấy mờ, thị lực suy giảm, khó nhìn, lóe sáng, quáng gà, ra nắng mờ hơn trong nơi râm mát.
Sức nhìn kém trong các vùng sáng bao quanh
Nhìn một vật thành hai hoặc ba
Thường xuyên thay đổi kính đeo mắt.

3.Nguyên nhân của bệnh đục thủy tinh thể là gì?

Nguyên nhân chính liên quan đến tuổi già, bệnh lý tiểu đường, cao huyết áp, cận thị, chấn thương. Trên 80% người mắc bệnh đục thủy tinh thể là người có độ tuổi trên 50
Bệnh đục thủy tinh thể có thể được phân loại:
Đục thủy tinh thể già là nguyên nhân phổ biến nhất và ảnh hưởng đối với người lớn ở độ tuổi trên 50
Đục thủy tinh thể do tiểu đường ảnh hưởng đến bệnh nhân tiểu đường và gây dao động thị lực.
Đục thủy tinh thể do chấn thương là do tổn thương mắt gây ra, trực tiếp hoặc gián tiếp làm hại đến thủy tinh thể.
Đục thủy tinh thể do cận thị, đục thủy tinh thể sau bệnh lý khác của mắt: glaucome (cườm nước), viêm màng bồ đào, tổn thương võng mạc…
Đục thủy tinh thể bẩm sinh là có sẵn khi sinh ra.

4.Điều trị :

Đục thuỷ tinh thể không điều trị khỏi bằng thuốc được, phương pháp điều trị triệt để là phẫu thuật, hiện đại nhất hiện nay là là phẫu thuật Phaco. Chỉ định phẫu thuật tuỳ thuộc vào nhu cầu bệnh nhân, nói chung là khi tình trạng đục thủy tinh thể ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày hoặc do nhu cầu công việc.
Phẫu thuật Phaco được thực hiện khoảng 5 phút. Mắt sẽ được nhỏ thuốc tê, Bác sĩ dùng dụng cụ và sóng siêu âm để tán nhuyễn cườm rồi hút ra, thay vào đó bằng thủy tinh thể nhân tạo. Thực hiện phẫu thuật này rất nhẹ nhàng, không gây chảy máu, không đau, không cần khâu và thị lực phục hồi nhanh, bệnh nhân không cần nằm viện.

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Những câu hỏi liên quan đến phẫu thuật Phaco


Phẫu thuật Phaco có an toàn không ?

Với phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm, phẫu thuật Phaco rất an toàn do các ưu điểm sau:
  • Đường rạch nhỏ (3mm) làm hạn chế chảy máu trong lúc phẫu thuật. Đường rạch nhỏ không cần khâu sẽ làm giảm loạn thị giác mạc và cảm giác xốn cộm sau phẫu thuật.
  • Phục hồi nhanh: sau phẫu thuật khoảng 1 giờ bệnh nhân có thể về ngay và cũng không cần băng kín mắt lại. Vì thế bệnh có thể phục hồi thị lực nhanh chóng và có thể tự sinh hoạt đi lại ngay sau khi phẫu thuật.
Cũng như bất kỳ phẫu thuật khác, phẫu thuật Phaco cũng có những rủi ro. Tuy nhiên, phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm sẽ làm hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất.

Bệnh nhân nên chuẩn bị gì cho cuộc phẫu thuật Phaco ?

Bệnh nhân không cần chuẩn bị gì đặc biệt cả. Tất cả mọi việc sẽ có bác sĩ và kỹ thuật viên của bệnh viện đảm nhiệm. Bác sĩ sẽ kiểm tra tổng quát cho bệnh nhân trước phẫu thuật, để loại trừ những nguyên nhân có thể ảnh hưởng tới cuộc phẫu thuật. Bác sĩ sẽ đo chiều dài của nhãn cầu, độ cong giác mạc để tính toán công suất của thuỷ tinh thể nhân tạo và khám lại bán phần sau của mắt để tiên lượng khả năng sáng mắt sau phẫu thuật.

Bệnh nhân nên làm gì sau khi phẫu thuật ?
  • Mắt của người bệnh không cần băng lại sau phẫu thuật mà chỉ đeo kính bảo vệ mắt.
  • Không nên cho nước chảy vào mắt trong lúc tắm, gội và rửa mặt trong hai tuần đầu sau khi phẫu thuật.
  • Không dụi tay vào mắt trong tháng đầu sau phẫu thuật.
  • Nên ăn uống nhiều rau và trái cây. Không nên uống rượu bia trong tháng đầu sau khi phẫu thuật.
  • Có thể đi lại và sinh hoạt nhẹ nhàng, xem báo, đọc sách.
  • Cần tránh cử động mạnh như rặn khi đại tiện, ho nhiều, bế em bé ...
  • Uống thuốc và nhỏ thuốc theo lời dặn của bác sĩ.
  • Rửa tay sạch trước và sau nhỏ thuốc.
  • Đến bệnh viện khám ngay nếu đang bình thường đột nhiên: đau mắt, nhìn mờ.
  • Không đi bơi trong tháng đầu sau phẫu thuật.
Bệnh nhân có thể đạt kết quả như thế nào sau phẫu thuật ?
  • Trên 90% trường hợp thị lực tốt hơn 7/10.

BS Linh     
(BV Mắt Sài Gòn)

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Đục bao sau là gì?



Đục bao sau là một tình trạng xảy ra sau khi người bệnh bị cườm khô (cataract) đã được phẫu thuật cườm.

- Bao (capsule) là một cấu tạo của mắt dùng để giữ thuỷ tinh thể tại chỗ. Bao (capsule) gồm có phần bao trước và bao sau.

- Khi phẫu thuật cườm bác sĩ nhãn khoa chỉ mở bao trước để lấy cườm ra (tức thuỷ tinh thể đã mất tính chất trong suốt, thuỷ tinh thể mờ đục là do tuổi tác hay các nguyên nhân khác và thay thế bằng thuỷ tinh thể nhân tạo) mà không lấy bao sau ra. Lý do giữ bao sau lại là để sau khi phẫu thuật cườm bác sĩ sẽ đặt một thuỷ tinh thể nhân tạo vào thay thế cho thuỷ tinh thể bị đục và bao sau dùng để giữ thuỷ tinh thể nhân tạo này tại chỗ đồng thời để giữ không cho chất thuỷ dịch tràn vào sau mắt.

- Sau khi được phẫu thuật (vài tháng đến vài năm), một vài bệnh nhân xuất hiện tình trạng đục bao sau do tình trạng phát triển quá mức của các tế bào. Bao sau bị dày lên, mờ đục (đây là nơi thủy tinh thể đục bị lấy ra và đặt IOL nhân tạo). Tình trạng này gọi là "second cataract" không phải do cườm bị tái phát mà chỉ là do chiếc bao sau bị đục mà thôi.

- Tình trạng này dễ dàng điều trị bằng cách dùng laser YAG để tạo một lổ nhỏ ở trung tâm của bao sau giúp bệnh nhân phục hồi lại thị lực. Thị lực sẽ được tốt hơn nhiều ngay sau khi cắt bao sau hay 1-2 ngày sau đó và thị lực tốt kéo dài được nhiều năm, kéo dài bao lâu thì tuỳ mỗi bệnh nhân. Nếu mắt bị mờ lại thì phải đến bác sĩ nhãn khoa ngay để tìm nguyên nhân và được áp dụng điều trị thích hợp.

Bác Sĩ Lê Quang Huy
(BV Mắt Sài Gòn)

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | cheap international calls